Lịch sử hình thành làng đá Non Nước Đà Nẵng

Làng đá Non Nước Đà Nẵng hình thành khoảng thế kỷ XVII tại vùng Quán Khái, dưới chân Ngũ Hành Sơn, gắn với tổ nghề Huỳnh Bá Quát. Từ nghề làm vật dụng đá, Non Nước phát triển thành làng điêu khắc mỹ nghệ và được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014.

Làng đá Non Nước hình thành từ khi nào?

Nghề đá Non Nước được nguồn chuyên ngành di sản xác định hình thành khoảng thế kỷ XVII. Một số tư liệu địa phương dùng mốc thế kỷ XVIII hoặc khoảng giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII. Các cách ghi này cần được đối chiếu với địa danh Quán Khái và tư liệu về người truyền nghề trước khi quy thành một năm thành lập cụ thể.

Quán Khái: địa danh cần biết khi tìm về cội nguồn

Trong bài giới thiệu lịch sử làng đá, Cổng thông tin thành phố Đà Nẵng nhắc đến các tên gọi Quán Khái Đông Giáp và Quán Khái Tây Giáp. Nghiên cứu về thợ đá An Hoạch của Lê Thị Thảo cũng gắn câu chuyện tổ nghề với làng Quán Khái Đông.

Tên Quán Khái gắn lịch sử nghề đá với một cộng đồng cư trú cụ thể. Trước khi có các xưởng và cửa hàng trưng bày, nghề được thực hành trong gia đình, qua việc truyền dạy, học nghề và làm vật dụng cho cư dân. Đây là đầu mối để nhận diện những ghi chép cũ liên quan đến làng nghề Non Nước.

Từ các ghi chép về người truyền nghề và sản phẩm ban đầu, có thể lý giải sự bén rễ của nghề bằng ba điều kiện gặp nhau: người đến định cư mang theo kỹ năng chế tác; vùng núi có nguồn đá; cư dân có nhu cầu sử dụng vật dụng làm từ đá. Nguồn nguyên liệu tạo cơ hội, còn việc học và thực hành trong cộng đồng giúp cơ hội ấy phát triển thành một nghề được tiếp nối.

Vì sao có tài liệu ghi thế kỷ XVII, có tài liệu ghi thế kỷ XVIII?

Hai nguồn của thành phố dùng những khoảng thời gian khác nhau: bài “Ba trăm năm làng đá Non nước” nêu thế kỷ XVIII; tư liệu về hồ sơ công nhận làng nghề truyền thống nêu giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII.

Sự khác nhau giữa các tư liệu cho thấy cần giữ từ “khoảng” khi nói về thời điểm khởi nghề. Quá trình từ một số gia đình làm đá đến nghề phổ biến trong cộng đồng và hình thành trung tâm chế tác có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Đây là cách lý giải quá trình phát triển, chưa phải căn cứ để xác định năm thành lập riêng cho từng giai đoạn.

Những cách gọi “hơn 300 năm”, “gần 400 năm” nên được hiểu là cách giới thiệu bề dày truyền thống. Muốn xác định niên đại chặt chẽ hơn vẫn cần đối chiếu văn bia, gia phả, sắc phong và các ghi chép lịch sử liên quan.

Lich-su-hinh-thanh-lang-da-non-nuoc-da-nang

Tổ nghề Huỳnh Bá Quát được ghi nhận qua những tư liệu nào?

Cụ Huỳnh Bá Quát được ghi nhận là người có công đem nghề đá từ Thanh Hóa vào vùng Quán Khái. Câu chuyện này được lưu giữ qua ký ức cộng đồng và tư liệu văn bia. Đọc hai loại tư liệu cùng nhau giúp hiểu vai trò của người khởi nghề, đồng thời nhận ra giới hạn của chứng cứ còn lại.

Văn bia tộc Huỳnh Bá và ký ức về người khởi nghề

Trong nghiên cứu “Về làng nghề và thợ đá An Hoạch (Thanh Hóa)” đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa năm 2015, Lê Thị Thảo dẫn bia mộ tiền hiền tộc Huỳnh Bá lập thời Bảo Đại. Bia ghi: “Thạch tượng Quán Khái xã, Huỳnh Bá tộc thủy khai”. Tác giả đối chiếu nội dung này với lời kể của các bậc cao niên để ghi nhận cụ Huỳnh Bá Quát là người truyền nghề vào Quán Khái.

Cần phân biệt thời người khởi nghề sống với thời hậu thế lập bia tưởng nhớ. Bia thời Bảo Đại ghi nhận việc cộng đồng tôn vinh tiền nhân, nhưng niên đại lập bia chưa xác định được năm nghề xuất hiện. Tư liệu này có giá trị đối với câu chuyện tổ nghề, song không đủ để ấn định một ngày sáng lập cụ thể.

Văn bia năm 1640 cho biết gì về vùng đất nghề đá bén rễ?

Một đầu mối khác là bia Phổ Đà sơn linh trung Phật ở động Hoa Nghiêm. Trong khảo cứu văn bản, Nguyễn Hoàng Thân xác định niên đại Canh Thìn trên bia tương ứng năm 1640. Văn bia được khắc trực tiếp trên vách đá, ghi việc tu sửa cơ sở Phật giáo và sự góp cúng của tín chủ, trong đó có người Việt, người Nhật và người Hoa.

Từ tư liệu này, có thể hình dung Ngũ Hành Sơn thế kỷ XVII đã có sinh hoạt tôn giáo và những mối liên hệ vượt ra ngoài cư dân tại chỗ. Đây là bối cảnh hữu ích để tìm hiểu môi trường văn hóa nơi nghề đá phát triển. Tuy nhiên, muốn gắn một công trình khắc đá với làng nghề hoặc một người thợ cụ thể vẫn cần chứng cứ trực tiếp về người chế tác. Mốc 1640 của văn bia vì vậy cần được đọc riêng với mốc khởi nghề.

Nghề đá thuở ban đầu phục vụ đời sống như thế nào?

Giai đoạn đầu, nghề đá chủ yếu đáp ứng nhu cầu dân dụng và việc ghi nhớ người đã khuất. Chày, cối, bia mộ là những sản phẩm được nhắc trong tư liệu về Quán Khái. Các công cụ còn được lưu giữ tại bảo tàng giúp hình dung công sức chế tác trước khi máy móc phổ biến.

Chiếc cối đá đặt tay nghề vào nhu cầu sử dụng

Nghiên cứu của Lê Thị Thảo ghi nhận nghề đá ban đầu là nghề phụ, làm những vật dụng như chày, cối và bia mộ. Những sản phẩm này đưa lịch sử Non Nước về với việc ăn ở, sinh hoạt và tưởng nhớ trong cộng đồng.

Việc làm cối đòi hỏi người thợ chọn khối đá phù hợp, tạo lòng cối, giữ tỷ lệ và xử lý bề mặt theo công dụng. Khi chuyển sang chế tác tượng, yêu cầu tạo hình thay đổi nhưng kinh nghiệm hiểu chất liệu vẫn giữ vai trò nền tảng. Sự chuyển biến từ vật dụng đến tác phẩm mỹ nghệ phản ánh quá trình phát triển tay nghề của cộng đồng.

Cưa tay, khoan tay và phần lao động ít được nhìn thấy

Phóng sự ảnh tại Bảo tàng Ký ức điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước ghi lại cưa tay dùng để tách khối đá, khoan tay tạo khoảng trống và dụng cụ khoan lõi để làm vòng đá. Bảo tàng còn trưng bày công cụ nghề rèn cùng các loại mũi đục được sưu tầm từ cơ sở chế tác lâu đời.

Trước khi chạm chi tiết, người thợ phải tách khối đá và tạo khoảng trống để tiếp cận phần cần đục. Những công cụ được lưu giữ cho thấy công sức của các khâu chuẩn bị và chế tác thủ công. Đặt chúng cạnh tác phẩm hoàn thiện giúp hình dung quy trình lao động trước khi máy móc trở nên phổ biến.

Đầu thế kỷ XIX: nghề đá phát triển trong bối cảnh triều Nguyễn

Nhu cầu xây dựng cung điện, lăng tẩm đầu thế kỷ XIX tạo điều kiện phát triển nghề. Tư liệu di sản ghi nhận thợ giỏi được phong hàm Cửu phẩm, được mời làm ở nhiều nơi.

Từ nhu cầu vật dụng trong làng, người thợ bước vào những công việc gắn với tổng thể kiến trúc. Xét về yêu cầu chế tác, một hạng mục trong công trình đòi hỏi sự phù hợp về kích thước, tỷ lệ và vị trí đặt. Uy tín tay nghề vì vậy có thể được nhìn qua khả năng đáp ứng công việc ngoài phạm vi sinh hoạt gia đình.

Sự tham gia của thợ đá trong bối cảnh triều Nguyễn cho thấy nghề đã mở rộng môi trường thực hành. Tuy nhiên, để xác định một tác phẩm cụ thể tại cung điện hoặc lăng tẩm do thợ Non Nước thực hiện, vẫn cần đối chiếu hồ sơ công trình và dấu tích người chế tác.

Đầu thế kỷ XX: điêu khắc Chăm và dấu mốc Marseille năm 1922

Đầu thế kỷ XX, sản phẩm Non Nước có thêm hướng phát triển theo mô típ điêu khắc Chăm và được giới thiệu tại hội chợ ở Pháp năm 1922. Hai đầu mối này cho thấy sự mở rộng về ngôn ngữ tạo hình và cơ hội tiếp xúc với công chúng bên ngoài.

Từ nghiên cứu hình tượng Chăm đến một dòng sản phẩm của làng nghề

Tư liệu tổng thuật của Báo Đà Nẵng ghi nhận nghệ nhân Nguyễn Chất có công mở đường cho sản phẩm theo mô típ tượng Chăm. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng cũng nhắc đến nghệ nhân Lê Bền với hoạt động chế tác tượng tròn và phù điêu mô phỏng nghệ thuật Champa cổ.

Khi tìm hiểu một tác phẩm thuộc dòng này, người xem cần chú ý hai lớp thời gian: thời đại của hình tượng được tham khảo và thời điểm tác phẩm đang xem được chế tác. Một tượng làm ở Non Nước theo mẫu Chăm có thể cho thấy năng lực nghiên cứu, tạo hình của người thợ; việc xác định nó là cổ vật lại cần hồ sơ nguồn gốc và niên đại riêng.

Việc tiếp nhận hình khối và hoa văn Chăm cho thấy khả năng học hỏi một truyền thống tạo hình khác, rồi vận dụng vào kỹ năng chế tác của người thợ Non Nước.

Sản phẩm Quán Khái được đưa đến Marseille năm 1922

Trong bài “Dấu Chăm xưa ở núi Ngũ Hành Sơn”, Bùi Văn Tiếng ghi nhận sản phẩm theo mẫu Chăm của làng điêu khắc đá Quán Khái đã được đưa sang trưng bày tại Hội chợ thuộc địa Marseille năm 1922 ở Pháp.

Dấu mốc năm 1922 cho thấy sản phẩm làng nghề đã được giới thiệu ở nước ngoài từ đầu thế kỷ XX. Việc trưng bày diễn ra trong bối cảnh hội chợ thời thuộc địa; sự kiện này chưa đủ để kết luận về quy mô xuất khẩu hay hiệu quả kinh doanh khi đó.

Nửa sau thế kỷ XX: tổ chức lại sản xuất và mở rộng thị trường

Sau năm 1975, sản xuất đá Non Nước được tổ chức theo mô hình hợp tác xã; trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, các hộ kinh doanh tiếp tục mở rộng hoạt động. Cùng giai đoạn này, máy cơ khí bắt đầu tham gia một số công đoạn, làm thay đổi điều kiện lao động của người thợ.

Hợp tác xã và sự chuyển dịch sang các cơ sở kinh doanh

Nghiên cứu của Lê Ngọc Nhất và Lê Thái Phượng công bố năm 2021 ghi nhận Hợp tác xã đá mỹ nghệ Non Nước sau năm 1975 có 130 hộ xã viên. Sản xuất khi ấy chủ yếu là vật liệu xây dựng; hàng mỹ nghệ còn nhỏ gọn, số lượng hạn chế và phục vụ nhu cầu lưu niệm. Nghiên cứu cũng ghi nhận hợp tác xã gặp khó khăn rồi giải thể trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, trong khi một số hộ mở rộng quy mô và mặt hàng.

Sự thay đổi từ hợp tác xã sang các cơ sở kinh doanh cho thấy nghề vẫn được tiếp nối khi mô hình tổ chức sản xuất biến chuyển. Bên cạnh giữ kỹ năng, người làm nghề phải thích ứng với việc tìm đơn hàng, tổ chức nhân lực và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Máy cơ khí xuất hiện và yêu cầu giữ kỹ năng thủ công

Tư liệu nghề do Cổng thông tin du lịch Đà Nẵng giới thiệu ghi nhận máy cơ khí tham gia một số công đoạn từ đầu thập niên 1980.

Sự xuất hiện của thiết bị cơ khí đánh dấu thay đổi trong cách xử lý khối đá và tổ chức công việc. Khi quy trình sản xuất đổi mới, việc truyền dạy cần tiếp tục chú trọng kinh nghiệm lựa chọn chất liệu và quyết định tạo hình của người thợ.

Từ thời kỳ Đổi mới: nhiều không gian sử dụng sản phẩm hơn

Tư liệu về quá trình phát triển làng nghề ghi nhận từ sau năm 1986, nhu cầu sử dụng đá mỹ nghệ và khách tham quan tăng, tạo điều kiện để sản xuất mở rộng. Các sản phẩm dần hiện diện trong không gian tín ngưỡng, nhà ở, sân vườn và công trình công cộng.

Với mỗi không gian, người đặt làm có những yêu cầu khác nhau về hình tượng, kích thước và cách hoàn thiện. Nhìn theo nhu cầu sử dụng, sự đa dạng sản phẩm kể lại quá trình làng nghề tiếp cận nhiều nhóm khách hàng và nhiều loại công việc hơn.

Từ năm 1990: thay đổi nguồn đá và không gian sản xuất

Từ năm 1990, việc khai thác đá ở Ngũ Hành Sơn bị dừng; nghề tiếp tục với nguyên liệu đưa từ nơi khác về. Sau đó, sự phát triển của hoạt động chế tác trong khu dân cư đặt ra yêu cầu bố trí khu sản xuất tập trung. Hai bước chuyển này làm thay đổi quan hệ giữa nghề đá, cảnh quan và đời sống cư dân.

Dừng lấy đá tại Ngũ Hành Sơn để bảo vệ danh thắng

Theo Cục Di sản văn hóa, từ năm 1990, UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng dừng cho phép khai thác đá tại Ngũ Hành Sơn. Nguồn cung từ bên ngoài được tư liệu thành phố nhắc đến gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên.

Nơi khai thác đá và nơi chế tác là hai thông tin khác nhau. Một tác phẩm làm tại Non Nước có thể sử dụng đá từ địa phương khác. Giá trị của nghề được thể hiện qua việc chọn chất liệu, tạo hình và hoàn thiện sản phẩm bằng kinh nghiệm của người thợ.

Trước đây, nguồn nguyên liệu gắn trực tiếp với Ngũ Hành Sơn. Khi nguồn cung thay đổi, tên làng nghề tiếp tục gắn với cộng đồng chế tác và kỹ năng được trao truyền. Đây là bước thích ứng quan trọng để nghề tồn tại cùng yêu cầu bảo vệ danh thắng.

Giai đoạn 2013–2015: di dời vào khu sản xuất tập trung

Theo phóng sự của Báo Quân đội nhân dân năm 2015, hạ tầng giai đoạn đầu của khu quy hoạch làng nghề hoàn tất năm 2013. Khu sản xuất có diện tích 35 ha, cách khu cũ khoảng 2 km; việc di dời tiếp tục được triển khai trong những năm sau.

Ghi chép tại hiện trường khi đó cho thấy một số cơ sở gặp khó khăn về bố trí máy móc, vận chuyển nguyên liệu và đầu tư xưởng mới. Những chi tiết này nhắc rằng thay đổi nơi sản xuất kéo theo thay đổi cách vận hành, dù nghề và người làm nghề vẫn tiếp nối.

Quy hoạch khu tập trung là bước tổ chức lại không gian sản xuất của làng nghề. Quá trình này đòi hỏi hạ tầng phù hợp với điều kiện lao động, vận chuyển nguyên liệu và kết nối giữa cơ sở chế tác với người mua.

Năm 2014: nghề điêu khắc đá Non Nước được ghi danh di sản quốc gia

Ngày 25/8/2014, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL, thuộc loại hình nghề thủ công truyền thống. Danh mục do Cục Di sản văn hóa công bố ghi rõ tên nghề, địa bàn và ngày quyết định.

Đối tượng được ghi danh là nghề, gắn với tri thức và thực hành của cộng đồng: cách chế tác, cách học nghề, kinh nghiệm chọn chất liệu và tập quán nghề. Danh hiệu di sản ghi nhận những giá trị được trao truyền này; nguồn gốc và chất lượng của từng sản phẩm cụ thể vẫn cần hồ sơ chế tác riêng.

Việc ghi danh tạo thêm cơ sở cho công tác truyền dạy, lưu giữ tư liệu và hỗ trợ cộng đồng tiếp tục thực hành nghề.

Năm 2015: nghiên cứu mẫu lân, nghê mang bản sắc Việt

Phóng sự của Báo Nhân Dân năm 2015 ghi nhận cuộc vận động sáng tác mẫu lân, nghê mang bản sắc Việt tại Non Nước. Qua trao đổi với cơ sở sản xuất và người làm công tác mỹ thuật, bài viết nêu một khó khăn cụ thể: có mẫu tạo hình mới nhưng vẫn cần người đặt mua để đưa vào sản xuất.

Cuộc vận động cho thấy bảo tồn nghề còn gắn với việc nghiên cứu hình tượng, tạo mẫu và tìm không gian sử dụng phù hợp. Để những mẫu mang bản sắc Việt tiếp tục được chế tác, cần có nhu cầu sử dụng và người đặt mua, giúp nghệ nhân duy trì công việc.

Điều gì đã giúp nghề đá được trao truyền qua nhiều thế hệ?

Việc truyền dạy trực tiếp, phân công công việc và sinh hoạt thờ Tổ tạo nên những mối liên kết trong cộng đồng làm nghề. Những yếu tố này bổ sung phần lịch sử về con người: ai chọn đá, ai tạo hình, ai hoàn thiện và thế hệ sau học công việc ấy bằng cách nào.

“Ông Võ”, “ông Văn” và kinh nghiệm trước nhát đục đầu tiên

Tư liệu di sản gọi người chuyên lấy, chọn đá là “ông Võ”, người ra phôi là “ông Văn”. Những tên gọi này thể hiện vai trò khác nhau trong quy trình chế tác.

Sự phân công cho thấy tác phẩm bắt đầu từ việc đánh giá nguyên liệu và xác lập hình dáng ban đầu. Kinh nghiệm chọn đá, ra phôi và giữ tỷ lệ là những phần quan trọng của tay nghề, trước khi sản phẩm bước vào các công đoạn chạm chi tiết và hoàn thiện.

Người học việc và những bàn tay hoàn thiện sản phẩm

Cổng thông tin du lịch Đà Nẵng ghi nhận truyền thống truyền nghề trong gia đình và hướng dẫn trực tiếp. Tư liệu cũng nêu sự tham gia của phụ nữ trong các công đoạn mài, rửa, đánh bóng thủ công.

Lịch sử làng nghề được tạo nên bởi nghệ nhân, người học việc và những người thực hiện khâu hoàn thiện. Ghi lại người tham gia, công cụ và phần việc của họ giúp lưu giữ đầy đủ hơn quá trình lao động phía sau một tác phẩm.

Lễ ra nghề, giỗ Tổ và sự liên kết của cộng đồng

Lễ tế ra nghề được tổ chức vào mùng 6 tháng Giêng âm lịch; giỗ Tổ vào ngày 16 tháng 3 âm lịch. Một mốc liên kết khác là năm 2006, khi Hội làng nghề truyền thống điêu khắc đá Non Nước – Ngũ Hành Sơn được thành lập.

Lễ ra nghề và giỗ Tổ là dịp tưởng nhớ tiền nhân, gặp gỡ giữa các thế hệ thợ đá. Hội nghề nghiệp tạo thêm hình thức liên kết cho nghệ nhân và cơ sở chế tác, duy trì sinh hoạt chung bên cạnh hoạt động sản xuất.

Từ năm 2023 đến năm 2026: lưu giữ ký ức và chuẩn bị cho thế hệ kế tiếp

Việc mở bảo tàng năm 2023 và phê duyệt đề án bảo tồn năm 2026 bổ sung hai hướng gìn giữ nghề: lưu lại dấu tích của quá khứ và tạo điều kiện để kỹ năng tiếp tục được thực hành. Đây là những mốc mới trong hành trình bảo tồn Non Nước.

Bảo tàng Ký ức mở cửa ngày 24/4/2023

Ngày 24/4/2023, Bảo tàng Ký ức điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước – Ngũ Hành Sơn chính thức hoạt động. Ông Lê Văn Hòa và cộng sự đã sưu tầm hiện vật, xây dựng không gian giới thiệu nghề qua các giai đoạn.

Các hiện vật lưu giữ thông tin về chủ nhân, công dụng và sự thay đổi công cụ qua thời gian. Khi được giới thiệu cùng lời kể của người thợ, chúng giúp tái hiện cách làm việc và quá trình phát triển kỹ thuật chế tác của làng nghề.

Bảo tàng kết nối công cụ với sản phẩm, giúp người xem hiểu các công đoạn chế tác và vai trò của kỹ năng thủ công trong lịch sử Non Nước.

Đề án năm 2026 hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Ngày 2/2/2026, Đà Nẵng ban hành Quyết định số 482/QĐ-UBND phê duyệt đề án bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chế tác thủ công trong điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, gắn với quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Những nhiệm vụ được công bố gồm truyền dạy, nghiên cứu và tư liệu hóa nghề, gìn giữ tri thức cùng nghi lễ, đồng thời mở rộng thị trường và nâng cao thu nhập cho người làm nghề.

Bảo tồn nghề cần gắn việc lưu giữ công cụ, tư liệu với truyền dạy và tạo điều kiện làm nghề. Người học phải được hướng dẫn và có cơ hội thực hành để tiếp nối kỹ năng. Các mục tiêu của đề án là định hướng triển khai, với kết quả cần được đánh giá qua từng giai đoạn.

Các mốc chính trong lịch sử làng nghề đá Non Nước Đà Nẵng

Những mốc dưới đây tóm lược quá trình từ khởi nghề đến các hoạt động bảo tồn hiện đại. Niên đại khởi nghề là khoảng thời gian ước định; các quyết định và sự kiện gần đây có ngày xác định cụ thể.

Dòng thời gian hình thành và phát triển nghề đá Non Nước
Thời kỳ Dấu mốc
Khoảng thế kỷ XVII Khởi nghề tại vùng Quán Khái dưới chân Ngũ Hành Sơn, gắn với cụ Huỳnh Bá Quát.
Đầu thế kỷ XIX Phát triển trong bối cảnh xây dựng cung điện, lăng tẩm triều Nguyễn.
Đầu thế kỷ XX Mở thêm dòng sản phẩm theo mô típ điêu khắc Chăm.
Năm 1922 Sản phẩm Quán Khái được giới thiệu tại Hội chợ thuộc địa Marseille.
Sau năm 1975 Tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã.
Đầu thập niên 1980 Máy cơ khí tham gia một số công đoạn chế tác.
Từ năm 1990 Dừng khai thác đá tại Ngũ Hành Sơn, tiếp tục nghề với nguồn nguyên liệu bên ngoài.
Năm 2006 Thành lập Hội làng nghề truyền thống điêu khắc đá Non Nước – Ngũ Hành Sơn.
Giai đoạn 2013–2015 Hoàn thành hạ tầng giai đoạn đầu và triển khai di dời vào khu sản xuất tập trung.
Ngày 25/8/2014 Ghi danh nghề vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Ngày 24/4/2023 Bảo tàng Ký ức điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước – Ngũ Hành Sơn đi vào hoạt động.
Ngày 2/2/2026 Phê duyệt đề án bảo tồn nghề đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Hiểu lịch sử để nhìn tác phẩm đá Non Nước rõ hơn

Lịch sử hình thành làng nghề đá Non Nước Đà Nẵng giúp người xem đặt tác phẩm vào mối liên hệ giữa chất liệu, hình tượng và người chế tác. Khi tìm hiểu một sản phẩm, ba câu hỏi sau sẽ đưa việc quan sát đi sâu hơn:

  • Đá được lấy từ đâu? Tìm hiểu nguồn nguyên liệu bên cạnh nơi sản phẩm được làm.
  • Hình tượng được tham khảo từ truyền thống nào? Phân biệt thời đại của mẫu tạo hình với thời điểm chế tác tác phẩm.
  • Ai đã làm và làm bằng cách nào? Tìm hiểu người tạo hình, người hoàn thiện và các công đoạn sử dụng máy hoặc công cụ thủ công.

Lịch sử làng nghề đá Non Nước là hành trình từ vật dụng dân gian đến tác phẩm điêu khắc mỹ nghệ. Qua nhiều biến đổi, nghề vẫn được tiếp nối bằng tay nghề và kinh nghiệm truyền dạy. Tìm hiểu thêm tại trang giới thiệu Làng Đá Non Nước Đà Nẵng.